Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán, theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025. Đây là tình trạng pháp lý quan trọng để xác định quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp, chủ nợ và những chủ thể liên quan khi xem xét áp dụng thủ tục phá sản.
Trong thực tế, không ít doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ nhưng vẫn thanh toán đầy đủ các khoản nợ. Ngược lại, có doanh nghiệp sở hữu nhiều tài sản nhưng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Vì vậy, việc xác định mất khả năng thanh toán không chỉ dựa vào kết quả kinh doanh hoặc giá trị tài sản.
Vậy doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là gì, khoản nợ phải quá hạn bao lâu và tình trạng này dẫn đến những hệ quả pháp lý nào? Bài viết dưới đây của Enterlaw phân tích các quy định quan trọng theo pháp luật hiện hành.
1. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là gì?
Theo khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Từ quy định này, có thể xác định ba yếu tố pháp lý cơ bản.
Thứ nhất, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán một khoản nợ. Khoản nợ phải có căn cứ pháp lý, phát sinh từ hợp đồng, giao dịch hoặc nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Thứ hai, khoản nợ đã đến hạn thanh toán. Thời điểm đến hạn được xác định theo thỏa thuận hợp pháp giữa các bên hoặc quy định pháp luật áp dụng đối với nghĩa vụ cụ thể.
Thứ ba, doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn. Đây là yếu tố quan trọng để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán.
Đáng chú ý, pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp phải có nhiều khoản nợ, nhiều chủ nợ hoặc tổng số nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản.
Chỉ cần tồn tại một khoản nợ có căn cứ pháp lý, đã đến hạn và doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn luật định thì cũng có thể phát sinh căn cứ xác định mất khả năng thanh toán.
Quy định mới khác gì so với Luật Phá sản 2014?
Theo Luật Phá sản 2014, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn.
Tuy nhiên, Luật Phục hồi, phá sản 2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, đã thay đổi thời hạn này thành 06 tháng.
Đối với các vụ việc đã được Tòa án thụ lý trước ngày luật mới có hiệu lực, cần xem xét Điều 87, Điều 88 về hiệu lực và quy định chuyển tiếp để xác định pháp luật áp dụng.
Cần phân biệt rằng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán chưa đồng nghĩa với doanh nghiệp đã phá sản. Theo khoản 4 Điều 5, tình trạng phá sản chỉ được xác lập khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đã có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.
Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài Phá sản doanh nghiệp là gì? Bản chất và hệ quả pháp lý để hiểu rõ sự khác biệt này.
2. Cách xác định thời hạn 06 tháng khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Thời hạn 06 tháng là căn cứ quan trọng để xác định doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán hay mới thuộc tình trạng có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Trong thực tế, việc xác định thời hạn này phải dựa trên nghĩa vụ thanh toán cụ thể, không chỉ căn cứ vào số ngày quá hạn ghi nhận trên sổ sách kế toán.
2.1. Xác định thời điểm khoản nợ đến hạn thanh toán
Trước tiên, cần xác định khoản nợ phát sinh từ quan hệ pháp luật nào và thời điểm doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán.
Ví dụ, Công ty A ký hợp đồng mua hàng hóa của Công ty B với giá trị 500 triệu đồng. Theo hợp đồng, Công ty A phải thanh toán toàn bộ số tiền vào ngày 01/04/2026.
Nếu các bên không có thỏa thuận thay đổi thời hạn hợp pháp, ngày 01/04/2026 là mốc để xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Trường hợp hợp đồng quy định nhiều đợt thanh toán thì phải xác định riêng ngày đến hạn của từng khoản.
Ngoài ra, nếu khoản nợ phát sinh từ nghĩa vụ mà thời hạn thanh toán được xác định theo quy định pháp luật, cần căn cứ vào quy định tương ứng thay vì mặc nhiên sử dụng ngày lập hóa đơn hoặc ngày ký hợp đồng.
2.2. Cách tính thời hạn 06 tháng
Theo khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.
Tiếp tục ví dụ trên, Công ty A phải thanh toán khoản nợ vào ngày 01/04/2026 nhưng không thực hiện.
Trong khoảng thời gian khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng, doanh nghiệp có thể thuộc tình trạng có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo khoản 1 Điều 5.
Nếu sau khi thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn đã kết thúc mà Công ty A vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, đây là căn cứ để xem xét xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Một vấn đề cần lưu ý là không nên mặc nhiên quy đổi 06 tháng thành 180 ngày.
Khi xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn, cần đối chiếu quy định pháp luật áp dụng. Đối với trường hợp áp dụng quy tắc tính thời hạn của Bộ luật Dân sự, Điều 147 và Điều 148 quy định về thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tính theo tháng, bao gồm trường hợp tháng cuối không có ngày tương ứng hoặc ngày cuối cùng rơi vào ngày nghỉ.
Việc tính đúng thời hạn đặc biệt quan trọng khi xác định thời điểm phát sinh quyền yêu cầu phá sản hoặc nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp.
2.3. Trường hợp doanh nghiệp được gia hạn khoản nợ
Trong thực tế, không phải mọi khoản nợ đến hạn đều giữ nguyên thời điểm thanh toán ban đầu.
Chẳng hạn, Công ty A có khoản nợ phải trả ngày 01/04/2026 nhưng được Công ty B đồng ý gia hạn đến ngày 01/07/2026.
Nếu việc gia hạn được xác lập hợp pháp và làm thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ, thời điểm đến hạn mới phải được xem xét khi xác định tình trạng mất khả năng thanh toán.
Do đó, cần kiểm tra hợp đồng, phụ lục, văn bản thỏa thuận hoặc những tài liệu chứng minh việc gia hạn.
Tuy nhiên, việc một bên đơn phương đề nghị gia hạn hoặc có thư yêu cầu được chậm trả chưa đồng nghĩa với việc thời hạn thanh toán đã được thay đổi hợp pháp.
2.4. Trường hợp doanh nghiệp chỉ thanh toán một phần khoản nợ
Nếu doanh nghiệp đã trả một phần nghĩa vụ thì cần xác định phần nợ còn lại và thời hạn thanh toán tương ứng.
Ví dụ, doanh nghiệp có khoản nợ 500 triệu đồng và đã thanh toán 300 triệu đồng. Phần nghĩa vụ còn lại là 200 triệu đồng.
Nếu 200 triệu đồng này vẫn là khoản nợ đã đến hạn và doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng thì vẫn có thể phát sinh căn cứ xác định mất khả năng thanh toán.
Việc đã thanh toán một phần không đương nhiên loại trừ tình trạng mất khả năng thanh toán đối với phần nghĩa vụ còn lại.
Ngược lại, nếu các bên đã có thỏa thuận hợp pháp về việc gia hạn hoặc thay đổi nghĩa vụ đối với phần nợ còn lại thì cần xác định theo nội dung thỏa thuận đó.
2.5. Trường hợp khoản nợ đang có tranh chấp
Không phải mọi khoản tiền mà chủ nợ yêu cầu đều đương nhiên là khoản nợ đã được xác định hợp pháp.
Trong nhiều vụ việc, doanh nghiệp có thể không thừa nhận khoản nợ vì tranh chấp về khối lượng hàng hóa, chất lượng dịch vụ, nghĩa vụ đối ứng hoặc thời điểm thanh toán.
Khi đó, cần kiểm tra căn cứ phát sinh nghĩa vụ, tài liệu chứng minh và bản chất tranh chấp.
Việc chủ nợ đơn phương xác nhận một khoản công nợ không tự động chứng minh đầy đủ điều kiện để yêu cầu phá sản. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp phản đối khoản nợ cũng không đương nhiên làm nghĩa vụ thanh toán chấm dứt.
Những tài liệu thường cần kiểm tra gồm hợp đồng, phụ lục, biên bản nghiệm thu, chứng từ giao nhận, đối chiếu công nợ, sao kê thanh toán và các văn bản trao đổi giữa hai bên.
Như vậy, để xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, cần xem xét đồng thời căn cứ khoản nợ, thời điểm đến hạn, các thỏa thuận thay đổi nghĩa vụ và tình trạng thanh toán thực tế.
3. Phân biệt có nguy cơ mất khả năng thanh toán và đã mất khả năng thanh toán
Luật Phục hồi, phá sản 2025 phân biệt rõ hai tình trạng pháp lý là có nguy cơ mất khả năng thanh toán và đã mất khả năng thanh toán.
Theo khoản 1 Điều 5, doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 5 quy định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.
Có thể phân biệt như sau:
| Tiêu chí | Có nguy cơ mất khả năng thanh toán | Đã mất khả năng thanh toán |
|---|---|---|
| Tình trạng khoản nợ | Không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng | Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn |
| Bản chất | Doanh nghiệp đang hoặc sắp không đáp ứng được nghĩa vụ thanh toán | Doanh nghiệp đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ sau mốc thời gian luật định |
| Hướng xử lý | Có thể xem xét cơ chế phục hồi khi đáp ứng điều kiện | Có thể phát sinh quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản; vẫn có thể xem xét thủ tục phục hồi theo luật |
| Đã được coi là phá sản? | Chưa | Chưa, nếu chưa có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án |
Doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán
Đây là giai đoạn doanh nghiệp đã xuất hiện vấn đề trong khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính nhưng chưa thuộc tình trạng mất khả năng thanh toán theo khoản 2 Điều 5.
Ví dụ, một doanh nghiệp có khoản vay sẽ đến hạn trong ba tháng tới nhưng dự kiến không đủ nguồn tiền để thanh toán, dù đã xem xét các nguồn thu và phương án huy động vốn.
Trường hợp có căn cứ cho thấy doanh nghiệp không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng, doanh nghiệp có thể thuộc tình trạng có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Cần lưu ý rằng không phải cứ có khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng tới thì đương nhiên được xác định là có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Yếu tố quan trọng là khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán
Đây là trường hợp doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.
Tình trạng này là căn cứ làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ pháp lý liên quan đến thủ tục phá sản.
Tuy nhiên, Luật Phục hồi, phá sản 2025 không coi việc đã mất khả năng thanh toán là dấu chấm hết đối với mọi cơ hội phục hồi doanh nghiệp.
Theo Điều 24 của Luật, những chủ thể có quyền theo quy định có thể nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi khi doanh nghiệp có nguy cơ mất hoặc đã mất khả năng thanh toán.
Vì vậy, việc phân biệt hai tình trạng trên không chỉ để xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ pháp lý mà còn giúp doanh nghiệp đánh giá phương án xử lý phù hợp.

4. Doanh nghiệp còn tài sản nhưng không trả được nợ có được coi là mất khả năng thanh toán không?
Có thể. Doanh nghiệp còn tài sản không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp vẫn có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo pháp luật phá sản.
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể sở hữu nhiều tài sản nhưng những tài sản này không dễ dàng chuyển đổi thành tiền hoặc đang được sử dụng để bảo đảm các nghĩa vụ khác.
Ví dụ, Công ty A đang sở hữu nhà xưởng, máy móc và bất động sản với tổng giá trị khoảng 20 tỷ đồng.
Tuy nhiên, công ty có khoản nợ 500 triệu đồng đã đến hạn nhưng không có nguồn tiền thanh toán. Các khoản phải thu chưa thu hồi được, ngân hàng không tiếp tục cho vay và doanh nghiệp không thể huy động dòng tiền cần thiết.
Nếu Công ty A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thì việc công ty còn sở hữu tài sản có giá trị không đương nhiên loại trừ tình trạng mất khả năng thanh toán.
Ngược lại, một doanh nghiệp có tổng nợ phải trả lớn hơn tổng tài sản hoặc kinh doanh thua lỗ kéo dài cũng chưa chắc đã thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán nếu chưa có căn cứ về nghĩa vụ trả nợ và thời hạn luật định.
Pháp luật phá sản không đồng nhất tình trạng mất khả năng thanh toán với việc doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu âm, thua lỗ hoặc không còn tài sản.
Điểm quyết định vẫn là việc doanh nghiệp có thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn luật định hay không.
Do đó, khi đánh giá tình trạng này, không nên chỉ xem xét báo cáo tài chính mà phải kiểm tra cả hồ sơ công nợ, hợp đồng và những chứng cứ về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
5. Hệ quả pháp lý khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Khi doanh nghiệp được xác định là mất khả năng thanh toán, những quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến thủ tục phá sản có thể phát sinh.
Tuy nhiên, cần phân biệt tình trạng mất khả năng thanh toán với việc Tòa án đã thụ lý đơn, mở thủ tục phá sản hoặc ra quyết định tuyên bố phá sản.
5.1. Phát sinh quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản
Theo khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản bao gồm:
- Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần;
- Người lao động, công đoàn khi đáp ứng điều kiện liên quan đến khoản nợ lương và nghĩa vụ thanh toán đối với người lao động;
- Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% cổ phần phổ thông trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn nếu điều lệ quy định;
- Thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 65% vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn nếu điều lệ quy định.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 38 quy định cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn trong trường hợp đáp ứng các điều kiện riêng về khoản chậm đóng, trốn đóng và việc thông báo, đôn đốc theo luật.
Không phải mọi chủ nợ hoặc mọi cổ đông đều đương nhiên có quyền yêu cầu phá sản. Tư cách và điều kiện nộp đơn cần được xác định theo Điều 38.
5.2. Phát sinh nghĩa vụ nộp đơn của người quản lý doanh nghiệp
Theo khoản 2 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, người đại diện theo pháp luật và những chủ thể quản lý, sở hữu được luật quy định có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.
Tùy loại hình doanh nghiệp, các chủ thể này có thể là Hội đồng quản trị công ty cổ phần, Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, Hội đồng thành viên công ty hợp danh, chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên.
Đối với Hội đồng quản trị và Hội đồng thành viên, việc thực hiện nghĩa vụ nộp đơn được xác định theo pháp luật doanh nghiệp, điều lệ, quyết định của cơ quan quản lý và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP.
Theo đó, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc người được xác định hợp pháp có thể thực hiện việc nộp đơn hoặc ủy quyền theo quy định. Không phải mọi thành viên của cơ quan quản trị đều phải tự mình nộp một đơn riêng.
Một vấn đề đáng chú ý khác là khoản 5 Điều 38 quy định trách nhiệm pháp lý đối với việc không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn.
Nếu việc không nộp đơn gây ra thiệt hại sau thời điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì người thuộc khoản 2 Điều 38 có thể phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Đối với cơ quan quản lý thuế, khoản 3 Điều 38 quy định nghĩa vụ nộp đơn theo pháp luật quản lý thuế và các điều kiện do Chính phủ quy định.
Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mất khả năng thanh toán có ý nghĩa trực tiếp đối với trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật và các chủ thể quản lý doanh nghiệp.
5.3. Doanh nghiệp không đương nhiên bị tuyên bố phá sản
Việc mất khả năng thanh toán không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp lập tức bị chấm dứt hoạt động hoặc bị tuyên bố phá sản.
Để Tòa án xem xét mở thủ tục phá sản, cần có yêu cầu hợp pháp, tài liệu chứng minh và các điều kiện tố tụng theo quy định.
Ngay cả khi đã có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp vẫn chưa được coi là phá sản nếu chưa có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.
Bạn đọc có thể tìm hiểu cụ thể tại bài Điều kiện mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo quy định mới.
5.4. Nghĩa vụ thanh toán không tự động chấm dứt
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài sản hợp pháp.
Tình trạng không trả được nợ không đồng nghĩa với việc các khoản nợ đương nhiên được xóa bỏ.
Tùy giai đoạn giải quyết, việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý tài sản hoặc hạn chế các giao dịch của doanh nghiệp phải tuân thủ quy định tương ứng của Luật Phục hồi, phá sản.
Đặc biệt, doanh nghiệp và người quản lý cần tránh những hành vi che giấu, tẩu tán hoặc chuyển dịch tài sản trái quy định nhằm trốn tránh nghĩa vụ với chủ nợ.
6. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán cần làm gì?
Khi doanh nghiệp xuất hiện tình trạng nợ quá hạn kéo dài, người quản lý cần chủ động đánh giá tình trạng tài chính và trách nhiệm pháp lý thay vì chỉ tiếp tục chờ đợi nguồn tiền thanh toán.
Có năm nhóm công việc quan trọng cần xem xét.
Thứ nhất, rà soát và xác định chính xác các khoản nợ.
Doanh nghiệp cần tổng hợp những khoản phải trả, chủ nợ, thời điểm đến hạn, nghĩa vụ bảo đảm và các khoản đã thanh toán một phần.
Đồng thời, cần kiểm tra các thỏa thuận gia hạn, đối chiếu công nợ và những khoản đang có tranh chấp.
Đây là cơ sở để xác định doanh nghiệp mới có nguy cơ hay đã mất khả năng thanh toán theo luật định.
Thứ hai, đánh giá khả năng phục hồi dòng tiền và hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp cần xem xét các khoản phải thu, nguồn vốn có thể huy động, tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền và triển vọng hoạt động.
Trường hợp vẫn có phương án kinh doanh khả thi, doanh nghiệp có thể thương lượng gia hạn nợ, cơ cấu nghĩa vụ tài chính hoặc tìm kiếm nguồn vốn hợp pháp.
Đồng thời, cần phân biệt những giải pháp thương lượng, tái cơ cấu nợ ngoài Tòa án với thủ tục phục hồi được thực hiện theo Luật Phục hồi, phá sản 2025.
Nếu đáp ứng điều kiện, doanh nghiệp có thể xem xét thủ tục phục hồi để bảo vệ hoạt động kinh doanh và quyền lợi của các bên.
Thứ ba, xác định nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp.
Người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu và các cơ quan quản trị cần xác định rõ tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ theo Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản.
Trường hợp phát sinh nghĩa vụ nộp đơn, việc thực hiện cần tuân thủ quy định pháp luật và hướng dẫn hiện hành.
Không nên kéo dài việc xử lý khoản nợ hoặc ngừng hoạt động mà bỏ qua những trách nhiệm pháp lý đã phát sinh.
Thứ tư, bảo toàn tài sản và hồ sơ pháp lý.
Doanh nghiệp cần quản lý và lưu giữ đầy đủ sổ kế toán, hợp đồng, chứng từ công nợ, tài liệu về tài sản, khoản phải thu và những hồ sơ liên quan.
Đồng thời, cần kiểm soát những giao dịch có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ hoặc làm phát sinh nguy cơ trách nhiệm pháp lý đối với người quản lý.
Thứ năm, lựa chọn phương án pháp lý phù hợp.
Nếu doanh nghiệp còn khả năng phục hồi, cần ưu tiên đánh giá phương án tái cơ cấu và thủ tục phục hồi theo điều kiện pháp luật.
Nếu doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán và phát sinh nghĩa vụ liên quan đến thủ tục phá sản, cần xác định đúng chủ thể thực hiện, chuẩn bị tài liệu và tiến hành theo quy định.
Đối với vụ việc có nhiều chủ nợ, tài sản bảo đảm, nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội hoặc quyền lợi người lao động, việc tham khảo ý kiến luật sư trước khi lựa chọn phương án xử lý là cần thiết.
Quý khách hàng có thể tham khảo Dịch vụ tư vấn phá sản doanh nghiệp của Enterlaw để được hỗ trợ đánh giá khoản nợ, trách nhiệm pháp lý và phương án giải quyết phù hợp.
7. Câu hỏi thường gặp về doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
7.1. Doanh nghiệp nợ quá hạn 3 tháng có được coi là mất khả năng thanh toán không?
Theo Luật Phục hồi, phá sản 2025, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.
Khoản nợ quá hạn 03 tháng chưa đủ căn cứ xác định tình trạng mất khả năng thanh toán theo khoản 2 Điều 5, nhưng có thể thuộc trường hợp có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
7.2. Doanh nghiệp chỉ có một khoản nợ quá hạn 6 tháng có bị coi là mất khả năng thanh toán không?
Có thể. Pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp phải có nhiều khoản nợ hoặc nhiều chủ nợ.
Nếu khoản nợ có căn cứ hợp pháp, đã đến hạn và doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau khi đã hết thời hạn 06 tháng thì có thể phát sinh căn cứ xác định mất khả năng thanh toán.
7.3. Doanh nghiệp còn nhiều tài sản có được coi là mất khả năng thanh toán không?
Có thể. Việc còn tài sản không đương nhiên loại trừ tình trạng mất khả năng thanh toán.
Pháp luật xem xét nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn luật định, không chỉ dựa vào tổng giá trị tài sản hoặc kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
7.4. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có bắt buộc phải phá sản không?
Không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên bị tuyên bố phá sản.
Tuy nhiên, khi đã mất khả năng thanh toán, những chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn theo Điều 38 phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định, trừ trường hợp luật có ngoại lệ.
Doanh nghiệp vẫn có thể xem xét thủ tục phục hồi nếu đáp ứng điều kiện.
7.5. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có được tiếp tục hoạt động không?
Tình trạng mất khả năng thanh toán không tự động làm doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đã tham gia thủ tục phục hồi hoặc phá sản tại Tòa án, việc quản lý, sử dụng tài sản và thực hiện các giao dịch phải tuân thủ những giới hạn pháp luật tương ứng.
7.6. Doanh nghiệp không trả được nợ có thể giải thể thay vì phá sản không?
Việc giải thể doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện theo Luật Doanh nghiệp, trong đó có yêu cầu bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Do đó, doanh nghiệp không thể sử dụng thủ tục giải thể để tránh nghĩa vụ trả nợ hoặc thay thế thủ tục phá sản trong trường hợp không đáp ứng điều kiện giải thể.
8. Kết luận của enterlaw.vn
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn theo Luật Phục hồi, phá sản 2025. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhưng không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã bị tuyên bố phá sản.
Việc xác định tình trạng này cần dựa trên căn cứ khoản nợ, thời điểm đến hạn, những thỏa thuận liên quan và tình trạng thực hiện nghĩa vụ thanh toán thực tế.
Quý khách hàng đang gặp khó khăn về công nợ, doanh nghiệp có dấu hiệu mất khả năng thanh toán hoặc cần xác định trách nhiệm khi thực hiện thủ tục phá sản có thể liên hệ Enterlaw để được luật sư hỗ trợ.
Enterlaw cung cấp dịch vụ tư vấn, rà soát hồ sơ công nợ, đánh giá điều kiện pháp lý và hỗ trợ lựa chọn phương án phục hồi hoặc phá sản phù hợp, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Quý khách hàng trong quá trình giải quyết vụ việc.