Điều kiện mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là vấn đề quan trọng cần xác định khi doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên, không phải cứ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, có khoản nợ quá hạn hoặc bị chủ nợ nộp đơn thì Tòa án đương nhiên ra quyết định mở thủ tục phá sản.
Theo pháp luật hiện hành, việc xem xét mở thủ tục phá sản phải dựa trên căn cứ về tình trạng mất khả năng thanh toán, tư cách của người yêu cầu, tính hợp pháp của đơn và các tài liệu, chứng cứ liên quan. Việc Tòa án tiếp nhận hoặc thụ lý đơn cũng chưa đồng nghĩa với quyết định mở thủ tục phá sản.
Vậy điều kiện để Tòa án mở thủ tục phá sản là gì, khoản nợ phải quá hạn bao lâu và khi nào Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản? Enterlaw sẽ phân tích các quy định quan trọng theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 và văn bản hướng dẫn hiện hành.
1. Điều kiện để Tòa án mở thủ tục phá sản doanh nghiệp gồm những gì?
Căn cứ Điều 5, Điều 38, Điều 39 và Điều 41 Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, việc Tòa án xem xét mở thủ tục phá sản doanh nghiệp cần dựa trên ba nhóm căn cứ pháp lý cơ bản:
1.1 Thứ nhất, căn cứ về tình trạng mất khả năng thanh toán.
Doanh nghiệp phải thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định pháp luật, tức là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Đây là căn cứ quan trọng để xem xét việc mở thủ tục phá sản theo trình tự thông thường.
1.2 Thứ hai, căn cứ về người yêu cầu và nội dung yêu cầu.
Người nộp đơn phải thuộc nhóm chủ thể có quyền hoặc nghĩa vụ yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản theo Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản. Đồng thời, yêu cầu phải có căn cứ pháp lý và được chứng minh bằng những tài liệu, chứng cứ phù hợp.
1.3 Thứ ba, căn cứ về thủ tục tại Tòa án.
Đơn yêu cầu phải được gửi đến Tòa án có thẩm quyền, được xem xét, xử lý và thụ lý theo quy định tại Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản. Sau khi thụ lý, Thẩm phán xem xét căn cứ của vụ việc để ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
Ba nhóm trên là cách hệ thống hóa những yêu cầu pháp lý liên quan, không phải danh mục ba điều kiện độc lập được luật quy định tại một điều khoản riêng.
Cần lưu ý: Việc doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoặc Tòa án đã thụ lý đơn không đồng nghĩa Tòa án chắc chắn mở thủ tục phá sản. Quyết định mở thủ tục phải được ban hành trên cơ sở xem xét căn cứ và hồ sơ vụ việc theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, Luật Phục hồi, phá sản 2025 còn quy định một số trường hợp áp dụng thủ tục phá sản rút gọn với trình tự giải quyết riêng.
2. Doanh nghiệp phải mất khả năng thanh toán theo quy định pháp luật
Theo khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Để xác định tình trạng này, cần làm rõ những vấn đề sau:
- Có tồn tại khoản nợ và nghĩa vụ thanh toán hợp pháp;
- Khoản nợ đã đến hạn thanh toán;
- Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.
Ví dụ: Công ty A có khoản nợ 800 triệu đồng phải thanh toán cho Công ty B vào ngày 01/03/2026.
Đến hạn, Công ty A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Nếu khoản nợ tiếp tục không được thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn, đây có thể là căn cứ xác định Công ty A mất khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, khi xem xét vụ việc cụ thể, cần kiểm tra hợp đồng, chứng từ, thời điểm phát sinh nghĩa vụ, thời hạn thanh toán và những tài liệu liên quan để xác định chính xác tình trạng khoản nợ.
Một điểm quan trọng khác là pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp phải có nhiều chủ nợ hoặc tổng số nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản mới được coi là mất khả năng thanh toán.
Doanh nghiệp dù đang sở hữu nhà xưởng, máy móc hoặc bất động sản có giá trị vẫn có thể mất khả năng thanh toán nếu không thực hiện nghĩa vụ trả nợ sau thời hạn luật định.
Ngược lại, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ nhưng vẫn thanh toán đầy đủ các khoản nợ đến hạn thì không đương nhiên được xác định là mất khả năng thanh toán.
Vì vậy, tình trạng mất khả năng thanh toán được xác định trên cơ sở việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không chỉ dựa vào kết quả kinh doanh hoặc giá trị tài sản của doanh nghiệp.
3. Người yêu cầu phải có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn phá sản
Không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 xác định các chủ thể có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn theo từng trường hợp cụ thể.
3.1. Người có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản
Theo khoản 1 Điều 38, nhóm có quyền nộp đơn bao gồm:
- Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần: Có quyền nộp đơn khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
- Người lao động, công đoàn: Có quyền nộp đơn khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày doanh nghiệp phải thanh toán tiền lương hoặc những khoản nợ đến hạn đối với người lao động mà vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ.
- Cổ đông, nhóm cổ đông công ty cổ phần: Sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn nếu Điều lệ công ty quy định.
- Thành viên, nhóm thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên: Sở hữu từ 65% tổng vốn điều lệ trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn theo Điều lệ công ty.
Ngoài ra, cơ quan bảo hiểm xã hội và một số chủ thể khác có quyền nộp đơn khi đáp ứng những điều kiện riêng do pháp luật quy định.
Việc xác định đúng tư cách người yêu cầu đặc biệt quan trọng trong trường hợp chủ nợ có tài sản bảo đảm, công ty có nhiều thành viên góp vốn hoặc phát sinh tranh chấp giữa các cổ đông.
3.2. Người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản
Theo khoản 2 Điều 38, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, những chủ thể sau có nghĩa vụ nộp đơn, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi:
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
- Hội đồng quản trị công ty cổ phần;
- Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên;
- Hội đồng thành viên công ty hợp danh;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân;
- Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên.
Việc thực hiện nghĩa vụ nộp đơn của các cơ quan quản trị doanh nghiệp được xác định theo pháp luật doanh nghiệp, Điều lệ và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 38 quy định cơ quan quản lý thuế phải nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản trong những trường hợp đáp ứng điều kiện theo pháp luật quản lý thuế và quy định của Chính phủ.
Lưu ý: Người có nghĩa vụ nộp đơn nhưng không thực hiện có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý. Trường hợp việc không nộp đơn gây ra thiệt hại sau thời điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì người thuộc khoản 2 Điều 38 có thể phải bồi thường theo quy định.
Đối với các trường hợp chưa rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người quản lý, doanh nghiệp có thể tham khảo dịch vụ luật sư doanh nghiệp để được tư vấn trước khi thực hiện.

4. Đơn yêu cầu phải có căn cứ, hợp lệ và được Tòa án thụ lý
Ngoài căn cứ mất khả năng thanh toán và tư cách người yêu cầu, việc xem xét mở thủ tục phá sản còn phụ thuộc vào hồ sơ và quá trình thụ lý đơn tại Tòa án.
4.1. Đơn yêu cầu phải có tài liệu, chứng cứ phù hợp
Theo khoản 1 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản 2025, người có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn phải gửi đơn, danh sách chủ nợ, người mắc nợ (nếu có) và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh yêu cầu có căn cứ và hợp pháp.
Tùy trường hợp, tài liệu có thể bao gồm hợp đồng, chứng từ xác nhận công nợ, tài liệu xác định thời hạn thanh toán, báo cáo tài chính hoặc giấy tờ chứng minh tư cách người nộp đơn.
Thành phần hồ sơ cụ thể khác nhau giữa trường hợp doanh nghiệp tự nộp đơn với trường hợp chủ nợ, người lao động hoặc các chủ thể khác nộp đơn.
Việc chuẩn bị hồ sơ cần tuân thủ Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản và Điều 5 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP.
4.2. Đơn phải được gửi đến Tòa án có thẩm quyền
Theo Điều 6 Luật Phục hồi, phá sản 2025, Tòa án nhân dân khu vực nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó.
Người nộp đơn cần xác định đúng Tòa án có thẩm quyền theo địa chỉ trụ sở chính và phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Nếu đơn được gửi đến Tòa án không có thẩm quyền, việc chuyển đơn phải thực hiện theo quy định, có thể ảnh hưởng đến thời gian giải quyết vụ việc.
4.3. Đơn phải được thụ lý theo quy định
Theo khoản 5 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản, Tòa án thụ lý đơn khi có căn cứ xác định người nộp đơn đã nộp lệ phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp.
Khoản 9 Điều 5 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn rõ:
- Đối với trường hợp phải nộp lệ phí, tạm ứng chi phí phá sản, Tòa án thụ lý sau khi nhận được các biên lai theo quy định.
- Đối với trường hợp không phải nộp lệ phí và tạm ứng chi phí phá sản, thời điểm thụ lý được tính từ ngày Tòa án nhận được đơn yêu cầu hợp lệ.
Pháp luật quy định những trường hợp được miễn nghĩa vụ nộp lệ phí hoặc tạm ứng chi phí phá sản. Vì vậy, không thể mặc nhiên áp dụng cùng một nghĩa vụ tài chính đối với mọi người nộp đơn.
Cần phân biệt: Tòa án tiếp nhận đơn, thụ lý đơn và ra quyết định mở thủ tục phá sản là những bước pháp lý khác nhau. Việc đơn đã được thụ lý chưa đồng nghĩa với việc Tòa án chấp nhận yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Đối với khách hàng cần hỗ trợ kiểm tra căn cứ và hoàn thiện tài liệu, Enterlaw cung cấp dịch vụ tư vấn phá sản doanh nghiệp với phạm vi công việc phù hợp từng vụ việc.
5. Khi nào Tòa án quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản?
Theo khoản 1 Điều 41 Luật Phục hồi, phá sản 2025: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, Thẩm phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
Như vậy, thời hạn 30 ngày được tính từ ngày Tòa án thụ lý đơn, không phải mặc nhiên tính từ ngày người yêu cầu gửi hồ sơ.
5.1. Trường hợp Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản
Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi qua xem xét có đủ căn cứ theo quy định pháp luật, đặc biệt là căn cứ xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Quyết định mở thủ tục phá sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra quyết định. Sau khi có quyết định mở thủ tục, hoạt động của doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh và giám sát theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản.
Theo Điều 42, doanh nghiệp bị cấm thực hiện một số hoạt động như:
- Cất giấu, tẩu tán hoặc tặng cho tài sản;
- Từ bỏ quyền đòi nợ;
- Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm trái quy định;
- Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp;
- Phân chia lợi nhuận, phân phối thu nhập.
Tuy nhiên, quyết định mở thủ tục phá sản không đồng nghĩa doanh nghiệp lập tức phải ngừng toàn bộ hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động trong phạm vi pháp luật cho phép và chịu sự giám sát, hạn chế nhất định để bảo toàn tài sản, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và những chủ thể liên quan.
Đồng thời, mở thủ tục phá sản chưa phải là quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Tình trạng phá sản chỉ được xác lập khi có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.
5.2. Trường hợp Tòa án không mở thủ tục phá sản
Tòa án có thể ra quyết định không mở thủ tục phá sản khi kết quả xem xét cho thấy không đủ căn cứ pháp lý để mở thủ tục.
Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp chưa thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo luật thì không thể chỉ dựa vào việc chủ nợ đã nộp đơn để đương nhiên mở thủ tục phá sản.
Cần phân biệt quyết định không mở thủ tục phá sản với việc trả lại đơn yêu cầu:
- Trả lại đơn: Được thực hiện trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 39, như người nộp đơn không có quyền, nghĩa vụ nộp đơn hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn theo yêu cầu.
- Không mở thủ tục phá sản: Là quyết định của Tòa án sau khi thụ lý và xem xét căn cứ của vụ việc theo Điều 41.
Theo khoản 4 Điều 41, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị.
Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết đề nghị hoặc kiến nghị theo trình tự, thời hạn luật định.
5.3. Trường hợp áp dụng thủ tục phá sản rút gọn
Luật Phục hồi, phá sản 2025 còn quy định thủ tục phá sản rút gọn tại Điều 70 và Điều 71. Đặc biệt, đối với trường hợp doanh nghiệp không còn tài sản, còn tài sản nhưng không thể thu hồi, thanh lý hoặc tài sản không đủ để trang trải các khoản chi phí theo điểm c khoản 1 Điều 70, khoản 2 Điều 71 quy định:
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án xem xét, tuyên bố doanh nghiệp phá sản nếu thuộc trường hợp luật định.
Đây là cơ chế giải quyết đặc biệt, không nhất thiết phải trải qua đầy đủ các giai đoạn của thủ tục phá sản thông thường. Đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hoặc doanh nghiệp đáp ứng điều kiện khác của Điều 70, việc áp dụng thủ tục rút gọn được thực hiện theo trình tự riêng tại Điều 71.
Do đó, khi xác định thủ tục cần áp dụng, phải xem xét tình trạng tài sản, quy mô doanh nghiệp, số lượng chủ nợ và các điều kiện pháp luật liên quan.
6. Câu hỏi thường gặp về điều kiện mở thủ tục phá sản
6.1. Doanh nghiệp nợ quá hạn 06 tháng có tự động bị mở thủ tục phá sản không?
Không. Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn là căn cứ xác định tình trạng mất khả năng thanh toán. Để Tòa án xem xét mở thủ tục phá sản, cần có căn cứ và việc giải quyết theo trình tự luật định. Tòa án không đương nhiên mở thủ tục chỉ vì doanh nghiệp có khoản nợ quá hạn.
6.2. Doanh nghiệp vẫn đang hoạt động có thể bị mở thủ tục phá sản không?
Có thể. Việc doanh nghiệp vẫn hoạt động kinh doanh không đồng nghĩa doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Nếu có căn cứ xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đáp ứng các yêu cầu pháp lý liên quan, Tòa án có thể xem xét quyết định mở thủ tục phá sản.
6.3. Tòa án đã thụ lý đơn có nghĩa là đã mở thủ tục phá sản không?
Không. Thụ lý đơn và quyết định mở thủ tục phá sản là hai bước pháp lý khác nhau. Theo Điều 41 Luật Phục hồi, phá sản, sau khi thụ lý đơn, Thẩm phán có thời hạn 30 ngày để ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản theo trình tự thông thường.
6.4. Chủ nợ có bảo đảm toàn bộ có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản không?
Theo điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, quyền nộp đơn của chủ nợ được quy định đối với chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần.
Vì vậy, chủ nợ có bảo đảm toàn bộ không có quyền nộp đơn chỉ dựa trên tư cách chủ nợ có bảo đảm toàn bộ theo quy định này. Tùy trường hợp, chủ nợ cần xem xét những quyền và phương án xử lý khoản nợ theo pháp luật có liên quan.
6.5. Doanh nghiệp không còn tài sản có thể bị tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn không?
Có thể. Theo điểm c khoản 1 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 Luật Phục hồi, phá sản 2025, doanh nghiệp không còn tài sản hoặc thuộc những trường hợp liên quan đến khả năng thu hồi, thanh lý tài sản và chi phí phá sản có thể được Tòa án xem xét tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn.
Tuy nhiên, việc áp dụng thủ tục này phải dựa trên căn cứ, tài liệu và kết quả xem xét của Tòa án theo quy định pháp luật.
7. Những lưu ý khi yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản doanh nghiệp
Trước khi yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp hoặc chủ nợ cần xác định chính xác khoản nợ, thời điểm đến hạn thanh toán, tư cách người yêu cầu và các chứng cứ liên quan. Việc chuẩn bị hồ sơ thiếu căn cứ hoặc lựa chọn không đúng thủ tục có thể dẫn đến việc phải bổ sung tài liệu, trả lại đơn hoặc kéo dài thời gian giải quyết.
Đối với doanh nghiệp đang gặp khó khăn tài chính, cũng cần đánh giá khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh và trách nhiệm của người quản lý để lựa chọn phương án phù hợp.
Enterlaw cung cấp dịch vụ tư vấn phá sản doanh nghiệp, hỗ trợ Quý khách hàng đánh giá tình trạng mất khả năng thanh toán, xác định căn cứ yêu cầu và chuẩn bị hồ sơ pháp lý.
Luật sư Enterlaw tư vấn phương án giải quyết, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong phạm vi dịch vụ đã thỏa thuận.
Quý khách hàng hãy liên hệ Enterlaw để được tư vấn và hỗ trợ thực hiện thủ tục phá sản đúng quy định pháp luật.