Enterlaw.vn kính chào quý khách hàng và bạn đọc!
CÔNG TY LUẬT UY TÍN

Người có quyền nộp đơn phá sản là ai? Ai có nghĩa vụ nộp đơn?

Thứ Tư, 28/10/2026

Người có quyền nộp đơn phá sản là những cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép yêu cầu Tòa án áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đáp ứng các điều kiện luật định. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định một số chủ thể có nghĩa vụ phải nộp đơn và chịu trách nhiệm nếu không thực hiện.

Đặc biệt, pháp luật phân biệt giữa người có quyền lựa chọn nộp đơn như chủ nợ, người lao động, cổ đông và người có nghĩa vụ phải nộp đơn như người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu hoặc cơ quan quản trị doanh nghiệp. Việc không thực hiện nghĩa vụ này có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý, bao gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp nhất định.

Vậy ai được quyền yêu cầu doanh nghiệp phá sản, ai bắt buộc phải nộp đơn và không thực hiện nghĩa vụ thì có hậu quả gì? Bài viết dưới đây của Enterlaw sẽ phân tích theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

1. Ai có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp?

Căn cứ Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, các chủ thể có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản được xác định theo từng nhóm, có thể khái quát như sau:

Chủ thể Quyền hoặc nghĩa vụ
Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần Có quyền nộp đơn
Người lao động, công đoàn Có quyền nộp đơn khi đáp ứng điều kiện
Cổ đông, nhóm cổ đông công ty cổ phần Có quyền nộp đơn theo tỷ lệ sở hữu
Thành viên, nhóm thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên Có quyền nộp đơn theo tỷ lệ vốn điều lệ
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Có nghĩa vụ nộp đơn
Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên thuộc trường hợp luật định Có nghĩa vụ nộp đơn
Chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên Có nghĩa vụ nộp đơn
Cơ quan quản lý thuế Có nghĩa vụ nộp đơn khi đáp ứng điều kiện riêng
Cơ quan bảo hiểm xã hội Có quyền nộp đơn khi đáp ứng điều kiện riêng

 

Sự khác biệt cơ bản giữa hai nhóm chủ thể nằm ở tính chất pháp lý của việc nộp đơn.

- Người có quyền nộp đơn được lựa chọn thực hiện quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thủ tục phá sản khi đáp ứng các điều kiện pháp luật.

- Người có nghĩa vụ nộp đơn phải thực hiện trách nhiệm khi phát sinh căn cứ luật định, trừ trường hợp được pháp luật quy định ngoại lệ.

Theo khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Đây là căn cứ quan trọng để xác định thời điểm phát sinh quyền hoặc nghĩa vụ yêu cầu phá sản.

Để hiểu rõ hơn về cách xác định tình trạng này, Quý khách hàng có thể tham khảo bài Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là gì? của Enterlaw.

2. Chủ nợ nào có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp?

Theo điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.

2.1. Chủ nợ không có bảo đảm

Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc của người thứ ba.

Ví dụ, Công ty A bán hàng hóa cho Công ty B theo hợp đồng mua bán, không có tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán. Đến hạn, Công ty B không trả tiền và việc không thanh toán tiếp tục kéo dài sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.

Trong trường hợp này, nếu có căn cứ xác định Công ty B mất khả năng thanh toán, Công ty A có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.

Điểm cần lưu ý là pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp phải có nhiều chủ nợ hoặc khoản nợ phải đạt một giá trị tối thiểu mới phát sinh quyền nộp đơn theo quy định này.

2.2. Chủ nợ có bảo đảm một phần

Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc người thứ ba, nhưng giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ phải thanh toán.

Ví dụ, Công ty A cho Công ty B vay 5 tỷ đồng, khoản vay được bảo đảm bằng tài sản có giá trị xác định là 3 tỷ đồng. Nếu Công ty B mất khả năng thanh toán theo quy định, Công ty A có thể thực hiện quyền nộp đơn với tư cách chủ nợ có bảo đảm một phần.

Tuy nhiên, cần xác định chính xác giá trị khoản nợ, phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và giá trị tài sản bảo đảm tại thời điểm xem xét.

2.3. Chủ nợ có bảo đảm toàn bộ có quyền nộp đơn không?

Theo điểm a khoản 1 Điều 38, chủ nợ có bảo đảm toàn bộ không thuộc nhóm chủ nợ được quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản dựa trên tư cách chủ nợ đó.

Tuy nhiên, họ vẫn có quyền yêu cầu thanh toán, xử lý tài sản bảo đảm và thực hiện những quyền khác theo pháp luật có liên quan.

Như vậy, quyền nộp đơn yêu cầu phá sản của chủ nợ phụ thuộc vào tình trạng bảo đảm của khoản nợ và điều kiện mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, không chỉ đơn thuần là việc doanh nghiệp đang có nợ.

3. Người lao động và công đoàn có quyền yêu cầu doanh nghiệp phá sản không?

Có. Theo điểm b khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, người lao động và công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ trả lương hoặc các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà vẫn không thanh toán.

Đây là quyền pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích của người lao động khi doanh nghiệp kéo dài việc không thực hiện nghĩa vụ tài chính.

3.1. Quyền nộp đơn của người lao động

Người lao động có thể trực tiếp thực hiện quyền nộp đơn khi doanh nghiệp không thanh toán tiền lương hoặc những khoản nợ khác đến hạn đối với mình sau thời hạn luật định.

Ví dụ, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho người lao động vào ngày 01/03/2026 nhưng không thực hiện. Nếu khoản tiền lương vẫn chưa được thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn, người lao động có thể thực hiện quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.

Theo khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP, đối với trường hợp người lao động, công đoàn nộp đơn theo điểm b khoản 1 Điều 38, doanh nghiệp có nghĩa vụ chứng minh khoản nợ lương.

Vì vậy, không thể mặc nhiên yêu cầu người lao động phải tự cung cấp toàn bộ sổ sách tiền lương do doanh nghiệp quản lý như một điều kiện để thực hiện quyền nộp đơn.

3.2. Quyền nộp đơn của công đoàn

Công đoàn cũng có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với người lao động và đáp ứng các điều kiện pháp luật.

Việc thực hiện quyền này phải căn cứ vào tư cách của tổ chức công đoàn và thẩm quyền của người đại diện theo quy định.

Cần lưu ý rằng quyền nộp đơn yêu cầu phá sản không đồng nghĩa với việc người lao động hoặc công đoàn có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay lập tức.

Tòa án vẫn phải xem xét tình trạng mất khả năng thanh toán, căn cứ của yêu cầu và giải quyết theo trình tự luật định.

Ngoài cơ chế phá sản, người lao động và công đoàn vẫn có thể sử dụng những phương thức pháp lý phù hợp khác để yêu cầu doanh nghiệp thanh toán tiền lương, bảo hiểm và các quyền lợi hợp pháp.

4. Cổ đông, thành viên góp vốn có quyền nộp đơn yêu cầu phá sản không?

Theo điểm c và điểm d khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, cổ đông công ty cổ phần và thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu.

4.1. Đối với cổ đông, nhóm cổ đông công ty cổ phần

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn khi sở hữu:

- Từ 20% tổng số cổ phần phổ thông trở lên; hoặc

- Tỷ lệ nhỏ hơn nếu Điều lệ công ty quy định.

Ví dụ, Công ty A là công ty cổ phần có ba cổ đông, trong đó một cổ đông sở hữu 25% số cổ phần phổ thông.

Khi công ty mất khả năng thanh toán, cổ đông này có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản theo quy định.

Nếu cổ đông chỉ sở hữu 10% cổ phần phổ thông, cần kiểm tra Điều lệ công ty hoặc khả năng cùng các cổ đông khác hình thành nhóm đáp ứng tỷ lệ luật định.

Đáng chú ý, điểm c khoản 1 Điều 38 không đặt ra điều kiện về thời gian sở hữu cổ phần liên tục để thực hiện quyền nộp đơn.

Do đó, không nên áp dụng nhầm điều kiện về thời gian nắm giữ cổ phần của những quyền cổ đông khác theo pháp luật doanh nghiệp.

4.2. Đối với thành viên, nhóm thành viên công ty TNHH

Thành viên hoặc nhóm thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền nộp đơn khi sở hữu:

- Từ 65% tổng số vốn điều lệ trở lên; hoặc

- Tỷ lệ nhỏ hơn nếu Điều lệ công ty quy định.

Ví dụ, công ty TNHH hai thành viên có tỷ lệ vốn góp 60% và 40%.

Nếu Điều lệ không quy định tỷ lệ thấp hơn, riêng thành viên sở hữu 60% vốn điều lệ chưa đáp ứng điều kiện nộp đơn với tư cách thành viên theo điểm d khoản 1 Điều 38.

Ngược lại, nếu Điều lệ công ty quy định tỷ lệ sở hữu được thực hiện quyền này từ 50% vốn điều lệ thì thành viên sở hữu 60% có thể đáp ứng điều kiện về tỷ lệ.

Cần phân biệt: Quyền nộp đơn của cổ đông, thành viên góp vốn theo tỷ lệ sở hữu khác với nghĩa vụ nộp đơn của người đại diện theo pháp luật hoặc cơ quan quản trị doanh nghiệp.

Một người có thể đồng thời mang nhiều tư cách pháp lý, nhưng quyền và nghĩa vụ tương ứng phải được xác định theo từng căn cứ luật định.

5. Những người nào có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp?

Khác với nhóm có quyền nộp đơn, khoản 2 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định những người và cơ quan quản trị doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Nghĩa vụ này phát sinh khi doanh nghiệp thuộc tình trạng mất khả năng thanh toán theo luật, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.

Pháp luật không quy định một khoảng thời gian chờ chung để người có nghĩa vụ tiếp tục trì hoãn việc nộp đơn sau khi căn cứ mất khả năng thanh toán đã phát sinh.

5.1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Theo điểm a khoản 2 Điều 38, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, trừ trường hợp luật định.

Đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, cần kiểm tra Điều lệ, phạm vi đại diện và các quy định liên quan để xác định trách nhiệm thực hiện phù hợp.

Người đại diện theo pháp luật không nên mặc nhiên cho rằng chỉ khi doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hoặc bị chủ nợ khởi kiện thì mới phát sinh nghĩa vụ nộp đơn.

5.2. Hội đồng quản trị công ty cổ phần

Theo điểm b khoản 2 Điều 38, Hội đồng quản trị công ty cổ phần có nghĩa vụ nộp đơn khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa chủ thể có nghĩa vụ và người trực tiếp thực hiện việc nộp đơn.

Theo khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP, việc nộp đơn được thực hiện bởi Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người khác theo Điều lệ, theo quyết định của Hội đồng quản trị.

Người được xác định hợp pháp có thể trực tiếp nộp đơn hoặc ủy quyền cho người khác nộp đơn theo quy định.

Do đó, không phải mọi thành viên Hội đồng quản trị đều phải tự mình nộp một đơn riêng.

5.3. Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên

Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng thuộc nhóm có nghĩa vụ nộp đơn theo điểm b khoản 2 Điều 38.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc người khác theo Điều lệ, theo quyết định của Hội đồng thành viên thực hiện việc nộp đơn hoặc ủy quyền theo quy định.

Việc xác định người trực tiếp thực hiện cần phù hợp với cơ cấu quản trị, Điều lệ và các quyết định hợp pháp của công ty.

Đối với những công ty có bất đồng giữa các thành viên, cần đặc biệt phân biệt nghĩa vụ của Hội đồng thành viên với quyền nộp đơn của thành viên, nhóm thành viên trên cơ sở tỷ lệ vốn góp.

5.4. Hội đồng thành viên công ty hợp danh

Theo điểm b khoản 2 Điều 38, Hội đồng thành viên công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn khi công ty mất khả năng thanh toán.

Việc thực hiện do Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc người khác được xác định theo Điều lệ, quyết định của Hội đồng thành viên thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐTP.

Đối với công ty hợp danh, ngoài nghĩa vụ nộp đơn, trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh còn phải được xem xét theo pháp luật doanh nghiệp và các quy định liên quan.

5.5. Chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên

Theo điểm d khoản 2 Điều 38, chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có nghĩa vụ nộp đơn khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.

Đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, cần chú ý trách nhiệm tài sản vô hạn theo pháp luật doanh nghiệp.

Đối với công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu và người đại diện theo pháp luật có thể là cùng một người hoặc những chủ thể khác nhau. Việc xác định nghĩa vụ nộp đơn phải căn cứ vào tư cách tương ứng theo luật.

Như vậy, nghĩa vụ nộp đơn phát sinh từ tình trạng mất khả năng thanh toán và tư cách pháp lý của chủ thể, không đơn thuần phụ thuộc vào tên gọi chức danh Giám đốc, Tổng giám đốc hay Chủ tịch công ty.

6. Quyền, nghĩa vụ nộp đơn phá sản của cơ quan thuế và bảo hiểm xã hội

Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định cơ chế riêng đối với cơ quan quản lý thuế và cơ quan bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: cơ quan quản lý thuế có nghĩa vụ nộp đơn khi đáp ứng điều kiện luật định, còn cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn khi đáp ứng các điều kiện riêng.

6.1. Nghĩa vụ nộp đơn của cơ quan quản lý thuế

Theo khoản 3 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, cơ quan quản lý thuế phải nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp theo quy định của Luật Quản lý thuế và những điều kiện do Chính phủ quy định.

Điều 72 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, quy định hai nhóm trường hợp cơ quan quản lý thuế nộp đơn:

Trường hợp thứ nhất: Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký trong thời gian dài.

Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký quá 03 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo về tình trạng này và không nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Đồng thời, cơ quan quản lý thuế đã áp dụng một trong những biện pháp cưỡng chế được quy định tại các Điều 66, 68, 69, 70 và 71 Nghị định 252/2026/NĐ-CP nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.

Trường hợp thứ hai: Doanh nghiệp bị cưỡng chế về thuế kéo dài.

Doanh nghiệp thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế và cơ quan thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định trong thời gian từ 03 năm trở lên nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.

Như vậy, không phải doanh nghiệp chỉ cần phát sinh nợ thuế, chậm nộp thuế hoặc bị áp dụng một biện pháp cưỡng chế thì cơ quan thuế đương nhiên phải nộp đơn yêu cầu phá sản.

Việc nộp đơn phải đáp ứng các điều kiện cụ thể theo pháp luật quản lý thuế.

6.2. Quyền nộp đơn của cơ quan bảo hiểm xã hội

Theo khoản 4 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi đã thông báo, đôn đốc đối với khoản chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế nhưng không có phản hồi trong 03 năm liên tiếp gần nhất theo quy định pháp luật có liên quan.

Đây là điều kiện đặc thù đối với cơ quan bảo hiểm xã hội, không được đồng nhất với điều kiện 06 tháng áp dụng đối với quyền nộp đơn của người lao động, công đoàn.

Đồng thời, quyền nộp đơn của cơ quan bảo hiểm xã hội khác với nghĩa vụ nộp đơn của cơ quan quản lý thuế.

Việc phân biệt hai chủ thể này giúp xác định đúng căn cứ pháp lý và tránh cách hiểu rằng mọi trường hợp doanh nghiệp nợ thuế hoặc chậm đóng bảo hiểm đều đương nhiên bị yêu cầu phá sản.

7. Không nộp đơn yêu cầu phá sản khi có nghĩa vụ thì bị xử lý như thế nào?

Theo khoản 5 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, cá nhân, cơ quan, tổ chức thuộc khoản 2 và khoản 3 Điều này không nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi có nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đáng chú ý, đối với các chủ thể thuộc khoản 2 Điều 38, việc không nộp đơn còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

7.1. Trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn

Những người và cơ quan có nghĩa vụ nộp đơn không được tùy ý bỏ qua trách nhiệm chỉ vì doanh nghiệp vẫn đang hoạt động hoặc chưa có chủ nợ khởi kiện.

Khi doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán, việc thực hiện nghĩa vụ phải được xác định theo khoản 2 Điều 38, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.

Đối với Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, cần phân biệt trách nhiệm của cơ quan quản trị với trách nhiệm của từng cá nhân.

Việc xác định trách nhiệm cá nhân phải dựa trên chức danh, thẩm quyền, hành vi thực tế và quy định pháp luật có liên quan, không mặc nhiên coi mọi thành viên trong cơ quan quản trị đều phải chịu trách nhiệm giống nhau.

7.2. Trường hợp phải bồi thường thiệt hại

Theo khoản 5 Điều 38, trường hợp người thuộc khoản 2 Điều này không nộp đơn và việc không nộp đơn gây ra thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì phải bồi thường.

Việc xác định trách nhiệm bồi thường cần xem xét các yếu tố:

- Người bị xem xét trách nhiệm có thuộc nhóm có nghĩa vụ nộp đơn hay không;

- Doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán từ thời điểm nào;

- Người có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ hoặc thuộc trường hợp ngoại lệ hay chưa;

- Có thiệt hại thực tế phát sinh sau thời điểm mất khả năng thanh toán hay không;

- Thiệt hại có phát sinh do hành vi không nộp đơn gây ra hay không.

Ví dụ, doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán nhưng người có nghĩa vụ không thực hiện việc nộp đơn. Việc trì hoãn kéo dài làm phát sinh thiệt hại cho chủ nợ mà lẽ ra có thể tránh được nếu nghĩa vụ được thực hiện đúng quy định.

Trong trường hợp này, người có nghĩa vụ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có đủ căn cứ xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả với hành vi không nộp đơn.

Tuy nhiên, không phải cứ doanh nghiệp phá sản thì người đại diện theo pháp luật hoặc thành viên Hội đồng quản trị đương nhiên phải trả thay toàn bộ khoản nợ của doanh nghiệp.

Trách nhiệm bồi thường do không nộp đơn phải được phân biệt với trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu, thành viên góp vốn hoặc người quản lý theo pháp luật doanh nghiệp và các quy định liên quan.

8. Câu hỏi thường gặp về quyền và nghĩa vụ nộp đơn phá sản

8.1. Doanh nghiệp chỉ có một chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu phá sản không?

Có thể. Pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp phải có nhiều chủ nợ mới được yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.

Nếu chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo quy định thì chủ nợ có quyền nộp đơn.

8.2. Giám đốc công ty có bắt buộc phải nộp đơn yêu cầu phá sản không?

Không thể xác định nghĩa vụ chỉ dựa trên chức danh Giám đốc.

Cần kiểm tra người đó có đồng thời là người đại diện theo pháp luật hoặc thuộc một trong các chủ thể có nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 38 hay không.

Nếu chỉ giữ chức danh Giám đốc mà không thuộc nhóm chủ thể có nghĩa vụ thì không thể mặc nhiên xác định người đó bắt buộc phải nộp đơn trên cơ sở chức danh này.

8.3. Cổ đông sở hữu 10% cổ phần có quyền yêu cầu công ty phá sản không?

Có thể nếu Điều lệ công ty quy định tỷ lệ sở hữu thấp hơn ngưỡng 20%, phù hợp với quy định tại Điều 38, hoặc cổ đông đó cùng các cổ đông khác hình thành nhóm đáp ứng tỷ lệ luật định.

Nếu Điều lệ không quy định tỷ lệ nhỏ hơn, cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên.

8.4. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao lâu thì người quản lý phải nộp đơn phá sản?

Nghĩa vụ nộp đơn của các chủ thể thuộc khoản 2 Điều 38 phát sinh khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo luật, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi.

Căn cứ xác định mất khả năng thanh toán là việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn.

Không được hiểu rằng sau khi doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán thì người có nghĩa vụ lại được chờ thêm một thời hạn 06 tháng khác mới phải thực hiện trách nhiệm.

8.5. Người không có quyền nộp đơn mà vẫn yêu cầu phá sản thì Tòa án xử lý như thế nào?

Theo điểm a khoản 3 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản 2025, Tòa án trả lại đơn nếu người nộp đơn không có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn theo Điều 38.

Thông báo trả lại đơn phải nêu rõ lý do. Người nộp đơn có quyền đề nghị xem xét lại theo trình tự và thời hạn luật định.

Việc xác định đúng quyền và nghĩa vụ nộp đơn không chỉ bảo đảm yêu cầu phá sản có căn cứ pháp lý mà còn giúp người đại diện, chủ sở hữu và cơ quan quản trị doanh nghiệp hạn chế rủi ro trách nhiệm khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Enterlaw cung cấp dịch vụ tư vấn phá sản doanh nghiệp, hỗ trợ Quý khách hàng xác định tư cách người nộp đơn, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và những trách nhiệm pháp lý có liên quan.

Luật sư Enterlaw tư vấn phương án phù hợp, hỗ trợ khách hàng thực hiện quyền, nghĩa vụ theo pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ việc.

Quý khách hàng hãy liên hệ Enterlaw để được tư vấn, đánh giá tình trạng pháp lý và lựa chọn phương án xử lý phù hợp theo quy định pháp luật hiện hành.

Trân trọng.

Hãy gọi ngay 0903298555 hoặc gửi câu hỏi tư vấn!

Viết bình luận của bạn
icon icon icon