Tranh chấp lao động có bắt buộc phải hòa giải trước khi khởi kiện không? Đối với tranh chấp lao động cá nhân, nguyên tắc chung là phải qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, Điều 188 Bộ luật Lao động quy định 06 nhóm tranh chấp không bắt buộc phải hòa giải trước.
Việc xác định đúng trường hợp rất quan trọng. Nếu tranh chấp thuộc diện bắt buộc hòa giải nhưng người khởi kiện bỏ qua bước này thì có thể chưa đáp ứng điều kiện khởi kiện tại Tòa án.
Bài viết này tập trung vào tranh chấp lao động cá nhân; tranh chấp lao động tập thể có cơ chế giải quyết riêng.
1. Tranh chấp lao động có bắt buộc phải hòa giải trước khi khởi kiện không?
Theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động, tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các trường hợp pháp luật quy định không bắt buộc hòa giải.
Có thể hiểu theo hai nhóm:
- Tranh chấp thuộc trường hợp thông thường: phải qua hòa giải trước;
- Tranh chấp thuộc 06 trường hợp ngoại lệ: có thể yêu cầu Tòa án giải quyết mà không bắt buộc phải hòa giải trước.
Do đó, trước khi chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, cần xác định đúng bản chất của tranh chấp chứ không chỉ nhìn vào tên gọi hoặc khoản tiền đang yêu cầu.
Trường hợp cần đánh giá toàn bộ vụ việc, khách hàng có thể tham khảo Luật sư giải quyết tranh chấp lao động.
2. Sáu trường hợp không bắt buộc hòa giải trước khi khởi kiện
Khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động quy định 06 nhóm tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động.
2.1. Tranh chấp về sa thải hoặc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Bao gồm:
- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải;
- Tranh chấp về trường hợp người lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Ví dụ, người lao động cho rằng doanh nghiệp sa thải không có căn cứ hoặc thực hiện sai trình tự thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết mà không bắt buộc phải hòa giải trước.
Có thể tham khảo thêm Sa thải lao động trái luật và Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
2.2. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động cũng không bắt buộc phải qua hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ví dụ, người lao động và doanh nghiệp tranh chấp về khoản bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật hoặc khoản trợ cấp phát sinh khi quan hệ lao động chấm dứt.
2.3. Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động
Do tính chất đặc thù của quan hệ lao động giúp việc gia đình, pháp luật cho phép các bên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết mà không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải viên lao động trước.
2.4. Tranh chấp về bảo hiểm
Bao gồm tranh chấp về: Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm thất nghiệp; Bảo hiểm tai nạn lao động; Bệnh nghề nghiệp.
Các tranh chấp này được giải quyết theo quy định của pháp luật có liên quan và không bắt buộc phải qua hòa giải viên lao động theo Điều 188 Bộ luật Lao động.
2.5. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trường hợp này cũng thuộc nhóm không bắt buộc phải hòa giải trước.
2.6. Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại
Quan hệ lao động thuê lại có sự tham gia của doanh nghiệp cho thuê lại lao động, người lao động thuê lại và người sử dụng lao động thuê lại.
Nếu phát sinh tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại thì không bắt buộc phải qua hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu giải quyết.
Như vậy, nếu tranh chấp thuộc một trong 06 nhóm trên thì việc chưa hòa giải không phải là căn cứ để xác định người khởi kiện chưa đủ điều kiện khởi kiện chỉ vì thiếu bước hòa giải.
3. Tranh chấp tiền lương có bắt buộc hòa giải không?
Không phải mọi tranh chấp về tiền lương đều được khởi kiện thẳng ra Tòa án. Nếu tranh chấp chỉ đơn thuần là:
- Công ty nợ lương;
- Trả thiếu tiền lương;
- Không thanh toán tiền làm thêm giờ;
- Tranh chấp khoản thu nhập khác;
và không thuộc một trong 06 trường hợp được miễn hòa giải thì về nguyên tắc phải thực hiện thủ tục hòa giải trước.
Tuy nhiên, phải xem xét bản chất pháp lý của toàn bộ tranh chấp. Ví dụ, người lao động bị doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và yêu cầu thanh toán tiền lương trong thời gian không được làm việc. Mặc dù có yêu cầu về tiền lương nhưng tranh chấp chính vẫn phát sinh từ việc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, thuộc trường hợp không bắt buộc hòa giải.
Ngược lại, nếu người lao động vẫn đang làm việc và chỉ tranh chấp về khoản lương doanh nghiệp chưa thanh toán thì cần xem xét nghĩa vụ hòa giải theo nguyên tắc chung.
Do đó, không nên chỉ nhìn vào tên khoản tiền đang yêu cầu mà phải xác định quan hệ tranh chấp làm phát sinh yêu cầu đó.

4. Thủ tục hòa giải tranh chấp lao động được thực hiện thế nào?
Đối với tranh chấp thuộc trường hợp bắt buộc hòa giải, Điều 188 Bộ luật Lao động quy định trình tự khá rõ.
4.1. Thời hạn hòa giải là 05 ngày làm việc
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp, hòa giải viên phải kết thúc việc hòa giải. Tại phiên hòa giải, hai bên tranh chấp phải có mặt. Các bên có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên hòa giải.
Hòa giải viên có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để tìm phương án giải quyết tranh chấp.
4.2. Trường hợp hòa giải thành
Nếu các bên đạt được thỏa thuận, hòa giải viên lập biên bản hòa giải thành. Biên bản phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động. Các bên có trách nhiệm thực hiện nội dung đã thống nhất.
Bản sao biên bản hòa giải thành phải được gửi cho các bên trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
4.3. Trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải
Nếu các bên không đạt được thỏa thuận thì hòa giải viên lập biên bản hòa giải không thành. Bản sao biên bản cũng phải được gửi cho các bên trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
Nếu một bên đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lập biên bản hòa giải không thành.
Trường hợp hết thời hạn 05 ngày làm việc mà hòa giải viên không tiến hành hòa giải thì các bên có quyền thực hiện bước giải quyết tiếp theo theo quy định.
Chi tiết về các phương thức có thể tham khảo tại bài Cách thức giải quyết tranh chấp lao động.
5. Khi nào được khởi kiện tranh chấp lao động tại Tòa án?
Đối với tranh chấp lao động cá nhân, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết trong các trường hợp chủ yếu sau:
- Tranh chấp thuộc 06 trường hợp không bắt buộc hòa giải;
- Hòa giải đã được thực hiện nhưng không thành;
- Hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;
- Hòa giải thành nhưng một bên không thực hiện đúng thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành.
Khi thuộc một trong các trường hợp trên, các bên có thể lựa chọn yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết theo quy định. Việc lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động phải dựa trên sự đồng thuận của các bên.
Khi đã yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết thì các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ những trường hợp pháp luật cho phép chuyển sang Tòa án.
5.1. Bỏ qua hòa giải bắt buộc có thể dẫn đến trả lại đơn
Nếu tranh chấp thuộc trường hợp bắt buộc phải hòa giải nhưng người khởi kiện chưa thực hiện thủ tục này mà đã nộp đơn cho Tòa án thì có thể bị xác định là chưa đủ điều kiện khởi kiện.
Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Ví dụ, người lao động chỉ yêu cầu công ty thanh toán khoản tiền lương còn nợ, vụ việc không thuộc trường hợp được miễn hòa giải. Nếu chưa thực hiện thủ tục hòa giải mà đã nộp đơn cho Tòa án thì cần xem xét điều kiện khởi kiện theo Điều 188 Bộ luật Lao động.
Vì vậy, xác định có phải hòa giải hay không là một trong những bước đầu tiên khi chuẩn bị khởi kiện tranh chấp lao động tại Tòa án.
6. Một số câu hỏi thường gặp về hòa giải tranh chấp lao động
6.1. Bị sa thải có phải hòa giải trước khi khởi kiện không?
Không bắt buộc. Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải thuộc một trong 06 trường hợp được miễn thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết.
6.2. Công ty nợ lương có được kiện thẳng ra Tòa án không?
Không phải trong mọi trường hợp.
Nếu đây chỉ là tranh chấp tiền lương thông thường và không thuộc một trong 06 trường hợp được miễn hòa giải thì về nguyên tắc phải thực hiện thủ tục hòa giải trước.
Nếu yêu cầu tiền lương phát sinh trong một tranh chấp khác được miễn hòa giải, chẳng hạn tranh chấp do bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ, thì cần xác định theo bản chất chung của vụ việc.
6.3. Hòa giải không thành có bắt buộc phải qua Hội đồng trọng tài lao động không?
Không. Sau khi đủ điều kiện theo Điều 188, các bên có thể lựa chọn:
- Hội đồng trọng tài lao động; hoặc
- Tòa án.
Hội đồng trọng tài lao động không phải là một cấp giải quyết bắt buộc trước khi khởi kiện.
6.4. Một bên không đến phiên hòa giải thì xử lý thế nào?
Nếu một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Sau đó, các bên có thể thực hiện quyền yêu cầu giải quyết theo quy định.
6.5. Hòa giải thành nhưng công ty không trả tiền thì có phải hòa giải lại không?
Không.
Nếu các bên đã hòa giải thành nhưng một bên không thực hiện nội dung đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên còn lại có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết theo quy định. Không bắt buộc phải thực hiện lại toàn bộ thủ tục hòa giải lần nữa.
6.6. Có bắt buộc phải thuê luật sư khi hòa giải tranh chấp lao động không?
Không.
Các bên có thể tự mình tham gia hoặc ủy quyền cho người khác tham gia theo quy định. Tuy nhiên, nếu tranh chấp liên quan đến nhiều khoản tiền, sa thải, đơn phương chấm dứt HĐLĐ hoặc có khả năng chuyển sang tố tụng thì việc rà soát căn cứ pháp lý và yêu cầu ngay từ giai đoạn hòa giải có thể giúp hạn chế những bất lợi về sau.
6.7. Hòa giải có làm thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại không?
Không mặc nhiên. Việc yêu cầu hòa giải không đồng nghĩa thời hiệu yêu cầu Tòa án tự động bắt đầu lại từ đầu. Tuy nhiên, nếu trong quá trình giải quyết phát sinh những sự kiện như bên có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc các bên tự hòa giải với nhau thì cần xem xét thêm các quy định của Bộ luật Dân sự về bắt đầu lại thời hiệu.
Vì vậy, trong thời gian hòa giải hoặc thương lượng, các bên vẫn phải chủ động kiểm soát thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết.
7. Kết luận của enterlaw.vn
Đối với tranh chấp lao động cá nhân, nguyên tắc chung là phải qua hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng Điều 188 Bộ luật Lao động quy định 06 nhóm tranh chấp không bắt buộc hòa giải.
Trong thực tế, những trường hợp miễn hòa giải thường gặp nhất là sa thải, bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bồi thường và trợ cấp khi chấm dứt HĐLĐ, tranh chấp về bảo hiểm.
Nếu tranh chấp thuộc diện bắt buộc hòa giải nhưng bỏ qua bước này thì người khởi kiện có thể chưa đáp ứng điều kiện khởi kiện. Ngược lại, nếu thuộc trường hợp được miễn hòa giải thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết trực tiếp khi đáp ứng các điều kiện tố tụng khác.
Khách hàng cần đánh giá cụ thể vụ việc có thể tham khảo Dịch vụ giải quyết tranh chấp lao động của Enterlaw. Đối với nhu cầu tư vấn tổng thể về hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm, nội quy, kỷ luật, sa thải và chấm dứt hợp đồng, có thể xem Dịch vụ tư vấn luật lao động.
Enterllaw.vn - Trọng luật, hiểu bạn.